Nguồn gốc Lịch sử về Sơn mài

Nguồn gốc Lịch sử về Sơn mài

Lịch sử sơn mài

NGUỒN GỐC CỦA NGHỆ THUẬT SƠN MÀI

Có những bằng chứng cho thấy sơn mài xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới cách đây hơn 4000 năm, nhiều cổ vật được tìm thấy tại các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Miến Điện…

Ngày nay các nhà khảo cổ học vẫn tranh cãi về nguồn gốc xuất xứ của nghệ thuật sơn mài cổ truyền. Vào thời kỳ từ năm 1600 – 1046 trước Công Nguyên, người thợ thủ công Trung Quốc đã biết sử dụng sơn mài vào các vật dụng trong đời sống hàng ngày và có công đưa màu sắc vào chất liệu này, tạo tính mỹ thuật cho sản phẩm nghệ thuật.

Đến thế kỷ thứ 5, nghệ thuật sơn mài được truyền bá sang Nhật Bản. Người thợ thủ công Nhật Bản đã tận dụng kỹ thuật này, phát triển và tạo thành một nền tảng căn bản cho kỹ thuật tác chế trên thế giới. Một trong những kỹ thuật người thợ thủ công Nhật Bản tìm ra là kỹ thuật Makie: dán vàng hoặc bạc lên sơn mài. Chính kỹ thuật này đã góp phần phát triển sơn mài từ việc chỉ được dùng cho những vật dụng trong dân gian, đến việc tạo ra những vật dụng sang trọng, tác phẩm nghệ thuật được sử dụng trong cung điện, lăng tẩm, đền chùa hay trong những gia đình giàu sang quyền quý.

NGUỒN GỐC TẠI VIỆT NAM

Tại Việt Nam, những vết tích đầu tiên về chất liệu này được khai quật cách đây hàng trăm năm trước Công Nguyên. Vào thời Đinh (930-950), dân Việt đã biết sử dụng mủ cây sơn để trét thuyền. Lần lượt qua các triều đại Lê, Lý, Trần, nhiều cổ vật, pho tượng gỗ hay đất được sơn son thếp vàng vẫn còn được lưu giữ.

Mãi đến đời vua Lê Nhân Tông (1443-1460), cụ Trần Lư (hiệu Trần Thượng Công) mới được tôn là bậc thầy đầu tiên của ngành nghề này. Các học trò của cụ đã lập phường thợ tỏa đi khắp nơi, những người thợ giỏi được triều đình nhận vào nội phủ để trang trí nội thất trong cung điện. Hiện nay Huế được xem là nơi mà những vết tích và tác phẩm sơn mài còn được bảo lưu một cách quy mô và đầy đủ nhất.

SẢN PHẨM SƠN MÀI VIỆT NAM VÀO THỜI KỲ ĐẦU

Từ xa xưa, vì mủ nhựa được trích từ vỏ cây sơn có độ dính và độ bền chắc, chịu được mưa nắng, nước mặn, độ ẩm cao nên người Việt đã dùng để trét thuyền và sơn quét lên đồ đạc bằng gỗ, bằng mây, tre để tăng độ bóng đẹp và độ bền. Trước đây nhựa sơn được các chúa Nguyễn lấy từ rừng ở Quảng Trị, Quảng Ngãi, Nam Đông thuộc Thừa Thiên Huế, sau này là Phú Thọ vì nhựa sơn ở Phú Thọ tốt hơn.

Đầu thập niên 1930, những họa sĩ Việt Nam đầu tiên học tại trường mỹ thuật Đông Dương, Hà Nội đã tìm tòi và học hỏi thêm cách sử dụng những vật liệu khác như: lá vàng, lá bạc, vỏ trứng, vỏ ốc, vỏ trai, cật tre… và hoàn thiện kỹ thuật mài để tạo nên các tác phẩm tranh sơn mài Việt Nam.

CÁC LOẠI SƠN MÀI

Sơn mài truyền thống có thể chia làm 3 loại:

–   Loại sơn quang được dùng trên các vật dụng bằng mây, tre, gỗ như hộp, khay… được quang thép một lớp sơn mỏng, có nhuộm màu nhẹ, khá phổ biến trong dân gian.

–   Loại sơn son thếp vàng chỉ được thấy trong các gia đình quyền quý, khá giả, các nhà thờ, đình, chùa, nhất là các lăng tẩm, cung điện vua chúa… Có thể tìm thấy ngày nay các pho tượng, liễn, hoành phi, câu đối, hộp, kiệu võng, án thư… trong những di tích cổ hoặc bảo tàng ở Việt Nam.

–   Nổi tiếng và độc đáo nhất là loại sơn mài đắp nổi. Về cơ bản cũng giống sơn son thếp vàng, nhưng các chi tiết đắp nổi được làm bằng hỗn hợp trộn giữa bột đá non, tro mo cau và giấy tinh giã nhuyễn. Sơn mài đắp nổi có nhiều trong nội phủ, hoàng cung với nhiều chi tiết hoa văn vô cùng phong phú như rồng, phụng, tứ linh…